Từ Bi Hỷ Xả

Thư viện · Giáo lý và thiền học

Những câu hỏi không thể trả lời

Bài tham khảo từ Wikipedia tiếng Việt, chưa được thẩm định về giáo lý.

Trong Phật giáo, acinteyya (Pali), nghĩa là "điều không thể tư lường, bất khả tư nghị (不可思議)" hoặc "không thể hiểu thấu", avyākṛta (Sanskrit: अव्याकृत, Pali: avyākata, nghĩa là "không thể dò thấu, không được giải thích",), và atakkāvacara, nghĩa là "vượt ngoài phạm vi của lý luận", là những câu hỏi không thể trả lời. Đây là những tập hợp các câu hỏi không nên suy tư tới, và Đức Phật đã từ chối trả lời chúng vì việc đó làm xao lãng khỏi Bát Chánh Đạo, đồng thời cản trở sự chứng đắc giải thoát. Nhiều tập hợp câu hỏi khác nhau có thể được tìm thấy trong các văn bản Pali và Sanskrit, bao gồm bốn câu hỏi, hoặc mười câu hỏi (trong các văn bản Pali), hay mười bốn câu hỏi (trong các văn bản Sanskrit) được xem là không thể trả lời.

Từ nguyên học

Từ Sanskrit acintya có nghĩa là "không thể hiểu thấu, vượt ngoài tư duy, không thể nghĩ bàn, vượt ngoài suy tưởng". Trong triết học Ấn Độ, acinteyya được định nghĩa là:

[Đ]iều phải được chấp nhận một cách tất yếu để giải thích các sự kiện, nhưng không thể đứng vững trước sự khảo xét của logic.

Thuật ngữ này cũng được định nghĩa là:

Điều không thể hoặc không nên được suy nghĩ tới; điều không thể nghĩ bàn, không thể hiểu thấu, không thể xuyên thấu; điều vượt quá giới hạn của tư duy và do đó không nên suy xét về nó.

Thuật ngữ này được sử dụng để mô tả thực tại tối hậu, vốn vượt ngoài mọi sự khái niệm hóa. Không nên theo đuổi những suy tưởng về lĩnh vực này, vì chúng không dẫn đến việc đạt được giải thoát.

Các thuật ngữ đồng nghĩa bao gồm avyākṛta ("các câu hỏi bất định"), và atakkāvacara, ("vượt ngoài phạm vi của lý luận").

Trong Hán ngữ, khái niệm avyākṛta được dịch là: Tiếng Trung Quốc: 無記; tiếng Việt: Vô Ký. "Ký" (tiếng Phạn: vyākṛta) có nghĩa là phân biệt, chia tách, phát triển, xác định. Khi thêm tiền tố phủ định "a-", nghĩa đen của "vô ký" là không thể xác định, không thể phân biệt được đặc tính của nó.

Atakkāvacara

Nirvana là atakkāvacara, nghĩa là "vượt ngoài suy luận logic". Niết-bàn rất khó được hiểu thông qua logic hay lý trí, vì nó không phải là một "vật" cụ thể. Nó không thể được giải thích bằng logic hay lý trí cho một người chưa tự mình chứng đạt trạng thái ấy.

Acinteyya – bốn điều bất khả tư lường

Bốn điều bất khả tư lường (bất khả tư nghị 不可思議) được xác định trong Acintita Sutta, Anguttara Nikaya 4.77, như sau:

Phạm vi của chư Phật (Buddha-range) [tức phạm vi các năng lực mà một vị Phật phát triển được nhờ thành Phật];

Phạm vi jhana của một người nhập định jhana [tức là phạm vi năng lực mà một người có thể đạt được khi nhập định jhana];

[Sự vận hành chính xác của] kết quả của nghiệp (kamma; Karma trong tiếng Sanskrit);

Sự suy đoán về [nguồn gốc v.v. của] vũ trụ là một điều bất khả tư lường, không nên suy đoán về nó (SN 56.41 phát triển chủ đề suy đoán này thành mười vấn đề bất định).

Mười câu hỏi bất định

Cula-Malunkyovada Sutta, MN 63 và 72 chứa danh sách mười câu hỏi không được trả lời liên vĩnh hằng.

Thế giới là vĩnh cửu

Thế giới không phải vĩnh cửu

Thế giới là vô hạn (về mặt không gian).

Thế giới không phải là vô hạn (về mặt không gian).

Hữu thể được thấm nhuần sức sống là đồng nhất với thân xác.

Hữu thể được thấm nhuần sức sống không đồng nhất với thân xác.

Như Lai (một bậc giác ngộ hoàn toàn) tồn tại sau khi chết.

Như Lai không tồn tại sau khi chết.

Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết.

Như Lai vừa không tồn tại vừa không không tồn tại sau khi chết.

Trong Aggi-Vacchagotta Sutta, "Bài kinh dành cho Vatsagotra về [ví dụ] ngọn lửa", Majjhima Nikaya 72, Đức Phật được Vatsagotra chất vấn về "mười câu hỏi bất định": avyākrta

Vũ trụ là vĩnh hằng, không vĩnh hằng, hữu hạn hay vô hạn?

Linh hồn và thân xác (jīvam & sarīram) là giống nhau hay khác nhau?

Sau khi chết, một Như Lai tồn tại, không tồn tại, vừa tồn tại vừa không tồn tại, hay vừa không tồn tại vừa không không tồn tại?

Đức Phật từ chối trả lời những câu hỏi này, tránh bị cuốn vào tranh luận siêu hình, nhưng đã trả lời bằng một phép ví dụ:

"Giả sử có người hỏi ông rằng: 'Ngọn lửa đã tắt trước mặt ông đây đã đi về hướng nào? Phía đông? Phía tây? Phía bắc? Hay phía nam?' Nếu được hỏi như vậy, ông sẽ trả lời thế nào?"

"'Câu hỏi ấy không thích hợp, thưa Tôn giả Gotama. Bất kỳ ngọn lửa nào cháy dựa vào nhiên liệu là cỏ và củi, khi không còn được nuôi dưỡng nữa, do đã tiêu thụ hết nhiên liệu ấy và không được cung cấp thêm nhiên liệu khác, thì chỉ đơn giản được gọi là “đã tắt” (giải thoát khỏi sự ràng buộc).'"

"'Cũng vậy, này Vaccha, bất kỳ sắc tướng nào mà người ta có thể dùng để mô tả Như Lai: Như Lai đã từ bỏ sắc tướng ấy, đã nhổ tận gốc, làm cho nó giống như gốc cây cọ bị chặt cụt, tước bỏ mọi điều kiện phát triển và không còn được định sẵn để sinh khởi trong tương lai. Được giải thoát khỏi mọi sự phân loại dựa trên sắc tướng, này Vaccha, Như Lai là sâu xa, vô biên, khó dò thấu như đại dương. Cụm từ “tái xuất hiện” không thể áp dụng. Cụm từ “không tái xuất hiện” cũng không thể áp dụng. Cụm từ “vừa tái xuất hiện vừa không tái xuất hiện” không thể áp dụng. Và cụm từ “vừa không tái xuất hiện vừa không không tái xuất hiện” cũng không thể áp dụng.'

Mười bốn câu hỏi

Truyền thống Sanskrit còn tồn tại (cũng như các văn bản Tây Tạng và Hán văn dựa trên Sanskrit) đã mở rộng danh sách các vấn đề bất khả tư nghị lên thành mười bốn câu hỏi.

1. Thế giới có vĩnh hằng không?

2. ...hay không?

3. ...hay vừa vĩnh hằng vừa không vĩnh hằng?

4. ...hay không phải cả hai trường hợp trên? (Các văn bản Pali lược bỏ hai khả năng "cả hai" và "không phải cả hai")

5. Thế giới có hữu hạn không?

6. ...hay không?

7. ...hay vừa hữu hạn vừa vô hạn?

8. ...hay không phải cả hai trường hợp trên? (Các văn bản Pali lược bỏ hai khả năng "cả hai" và "không phải cả hai")

9. Bản ngã có đồng nhất với thân xác không?

10. ...hay khác với thân xác?

11. Như Lai (Đức Phật) có tồn tại sau khi chết không?

12. ...hay không?

13. ...hay vừa tồn tại vừa không tồn tại?

14. ...hay không phải cả hai trường hợp trên?

Mười sáu câu hỏi - Sabbasava-Sutta

Sabbasava Sutta (Majjhima Nikaya 2) cũng đề cập đến 16 câu hỏi được xem là "sự suy tư không khôn ngoan" (unwise reflection), dẫn đến sự chấp thủ vào các quan điểm liên quan đến một bản ngã.

Tôi là gì?

Tôi là như thế nào?

Tôi có tồn tại không?

Tôi không tồn tại sao?

Tôi đã tồn tại trong quá khứ chăng?

Tôi đã không tồn tại trong quá khứ chăng?

Tôi đã là gì trong quá khứ?

Tôi đã như thế nào trong quá khứ?

Trước đây là gì mà tôi đã trở thành cái gì?

Tôi sẽ tồn tại trong tương lai chăng?

Tôi sẽ không tồn tại trong tương lai chăng?

Tôi sẽ là gì trong tương lai?

Tôi sẽ như thế nào trong tương lai?

Là gì rồi tôi sẽ trở thành cái gì trong tương lai?

Con người này từ đâu đến?

Người ấy sẽ đi về đâu?

Đức Phật tuyên bố rằng việc chấp thủ vào cả hai loại quan điểm: quan điểm cho rằng có và nhận thức được một bản ngã, cũng như quan điểm cho rằng không có bản ngã, đều là không khôn ngoan. Bất kỳ quan điểm nào xem bản ngã là "thường hằng, ổn định, vĩnh cửu, không thay đổi, mãi mãi giữ nguyên như vậy" đều là sự "mắc kẹt trong các quan kiến, một khu rừng của các quan kiến, một vùng hoang dã của các quan kiến; sự tranh chấp trong các quan kiến, sự dao động (đấu tranh) của các quan kiến, và xiềng xích của các quan kiến.".

Trở ngại đối với sự giải thoát

Việc suy tư về bốn điều acinteyya là một trở ngại đối với việc đạt được giải thoát. Sacca-samyutta, "Tương Ưng về Tứ Diệu Đế", Samyutta Nikaya 56:

Vì vậy, này các Tỳ-kheo, đừng nghiền ngẫm về [bất kỳ quan điểm nào trong số này]. Sự nghiền ngẫm như thế, này các Tỳ-kheo, là vô ích, không liên quan gì đến phạm hạnh chân chính (xem ādibrahmacariyaka-sīla), không dẫn đến sự ly tham, buông bỏ, đoạn diệt hay an lạc; không dẫn đến sự hiểu biết viên mãn, giác ngộ và Niết-bàn, v.v.

Và trong Aggi-Vacchagotta Sutta, "Bài kinh dành cho Vatsagotra về [Ví dụ] Ngọn Lửa", Majjhima Nikaya 72:

Này Vaccha, [bất kỳ quan điểm nào như thế] đều là bụi rậm của các quan điểm, là vùng hoang dã của các quan điểm, là sự uốn xoắn của các quan điểm, là sự quằn quại của các quan điểm, là xiềng xích của các quan điểm. Chúng đi kèm với khổ đau, phiền não, tuyệt vọng và sốt não; và chúng không dẫn đến sự nhàm chán thế gian, ly tham, đoạn diệt; không dẫn đến sự an tịnh, tri kiến trực tiếp, Giác ngộ viên mãn hay Giải thoát.

Đức Phật còn cảnh báo thêm rằng:

Bất kỳ ai suy đoán về những vấn đề này sẽ trở nên điên loạn và rơi vào phiền não.

Sources

Printed sources

Web-sources

External links

Kaccayanagotta Sutta: To Kaccayana Gotta (on Right View)

Cula-Malunkyovada Sutta: The Shorter Instructions to Malunkya

Aggi-Vacchagotta Sutta: To Vacchagotta on Fire

Peter Della Santina, The Tree of Enlightenment: An Introduction to the Major Traditions of Buddhism, Philosophy and Psychology in the Abhidharma

Text of the Cula Malunkyaputta Sutta

Further reading

Karunadasa, Yakupitiyage (2007). The Unanswered Questions: Why were They Unanswered? A Re-examination of the Textual Data, Pacific World: Third Series 9, 3-31

Nicholson, Hugh (2012). Unanswered Questions and the Limits of Knowledge, Journal of Indian Philosophy 40 (5), 533-552

Nguồn: Những câu hỏi không thể trả lời, Wikipedia tiếng Việt, phiên bản 75656578, các tác giả Wikipedia. Giấy phép CC BY-SA 4.0. Đã lược bỏ hình ảnh, bảng, chú thích và tài liệu tham khảo; xem đầy đủ tại nguồn.