Mahāyānasaṃgraha
Bài tham khảo từ Wikipedia tiếng Việt, chưa được thẩm định về giáo lý.
Nhiếp đại thừa luận, tức Mahāyānasaṃgraha ( MSg ) (tiếng Phạn; giản thể: 摄大乘论; phồn thể: 攝大乘論; bính âm: Shè dàchéng lùn, tiếng Tây Tạng : theg pa chen po bsdus pa ), hay Tuyển tập/Tóm tắt Đại thừa, là một tác phẩm cốt lõi của trường phái Triết học Phật giáo Đại thừa Duy Thức tông (Yogācāra), được cho là của ngài Vô Trước (Asanga) (khoảng năm 310–390 CN). Nhiếp Đại Thừa Luận là một tác phẩm toàn diện về các giáo lý và thực hành trung tâm của trường phái Duy Thức. Tác phẩm này đã được dịch sang chữ Hán bởi ngài Chân Đế (Paramartha) (năm 499–567 CN) và trở thành bộ luận trung tâm của Nhiếp Luận tông. Mặc dù không tìm thấy bản gốc tiếng Phạn, tác phẩm vẫn còn tồn tại trong các bản dịch tiếng Tây Tạng (Tohoku, 4050; Bắc Kinh, 5551) và các bản dịch chữ Hán (Đại Tạng Kinh Taishō 1592, 1593, 1594), cùng với các bản chú giải. Có hai bản chú giải cho tác phẩm này; Nhiếp Đại Thừa Luận Thích (Mahāyānasaṃgraha-bhāṣya) của ngài Thế Thân (Vasubandhu) và Nhiếp Đại Thừa Luận Đạo Thích (Mahāyānasaṃgraha-panibandhana) của ngài Vô Tính (Asvabhava) (nửa đầu thế kỷ thứ sáu).
Nội dung
Trong mười chương, tác phẩm Nhiếp Đại Thừa Luận của ngài Vô Trước trình bày các giáo lý chính của trường phái Duy Thức tông Đại thừa như A-lại-da thức (ālayavijñāna - thức thức chứa), "ba tự tính" (trisvabhāva), năm đường tu học (pañcamārga - ngũ đạo) và Pháp thân (Dharmakaya).
Mười chương đó là:
Jñeyāśraya ("Sở tri y 所知依" - Chỗ dựa của cái được biết, hoặc Căn bản của những gì cần biết)
Jñeyalakṣaṇa ("Sở tri tướng 所知相" - Các đặc tính khu biệt của cái được biết, hoặc Đặc tính của những gì cần biết)
"Nhập sở tri tướng 入所知相" - Thảo luận về con đường dẫn đến giác ngộ (mārga - đạo)
"Bỉ nhập nhân quả 彼入因果" - Thảo luận về sáu ba-la-mật (ṣaṭpāramitā - lục độ)
"Bỉ tu sai biệt 彼修差別" - Thảo luận về mười giai vị của bồ-tát (daśabhūmi - thập địa)
"Tăng thượng giới học 增上戒學" (śīla)
"Tăng thượng tâm học" hay "Tăng thượng định học" (samādhi)
"Tăng thượng tuệ học" (prajñā)
"Bỉ quả đoạn 彼果斷" - Thảo luận về sự đoạn trừ là kết quả của việc tu học này, cụ thể là "chuyển y" (āśrayaparāvṛtti - chuyển đổi căn bản)
"Bỉ quả trí" - Thảo luận về trí tuệ là kết quả của việc tu học này, cụ thể là Phật quả, Pháp thân (Dharmakāya).
Trong phần giới thiệu tác phẩm Mahāyānasaṃgraha, Asanga đã nêu ra mười chủ đề chính như sau:Thông qua những lời hướng dẫn theo cách thức đó, mười chủ đề không được giảng dạy trong Thanh văn thừa (śrāvakayāna) sẽ được giảng dạy trong Đại thừa (mahāyāna) như sau:
(1) A-lại-da thức được dạy là chỗ dựa của cái được biết (sở tri y). (2) Ba tự tính—y tha khởi tính, biến kế sở chấp tính, và viên thành thật tính—được dạy là đặc tính của cái được biết (sở tri tướng). (3) Duy thức (mere cognizance) được dạy là sự thấu nhập đặc tính của cái được biết (nhập sở tri tướng). (4) Sáu ba-la-mật (pāramitā) được dạy là nguyên nhân và kết quả của việc thấu nhập những đặc tính này (bỉ nhập nhân quả). (5) Mười giai vị (bhūmi) của bồ-tát được dạy là các thứ lớp tu tập nguyên nhân và kết quả của việc thấu nhập này (bỉ nhân quả tu sai biệt). (6) Các giới nguyện bồ-tát được dạy là tăng thượng giới học trong phần tu tập này. (7) Các định (samādhi) như Thủ-lăng-nghiêm (Heroic Stride) và Hư-không-tạng (Sky Treasure) được dạy là tăng thượng tâm học trong phần tu tập này. (8) Trí tuệ vô phân biệt được dạy là tăng thượng tuệ học (prajñā) trong phần tu tập này. (9) Niết-bàn vô trụ xứ được dạy là sự đoạn trừ (hoặc xả ly), vốn là kết quả của việc tu học này (học quả đoạn). (10) Ba thân (kāya) của một vị Phật—Tự tính thân (svābhāvikakāya), Báo thân (saṃbhogakāya), và Hóa thân (nirmāṇakāya)—được dạy là trí tuệ, vốn là kết quả của việc tu học này (học quả trí).Trong chương đầu tiên, bộ luận đưa ra sự phân tích sâu rộng nhất về khái niệm "A-lại-da thức" (thức chứa) của tông Duy Thức so với bất kỳ văn bản Duy Thức sơ kỳ nào. Theo ngài Vô Trước, đây là một thức tiềm thức, nơi các ấn tượng (vasanas - huân tập/tập khí) từ những trải nghiệm quá khứ được lưu trữ dưới dạng các hạt giống (bija - chủng tử) của các trải nghiệm trong tương lai. Thức hoạt động (pravrtti-vijñana - chuyển thức) của trải nghiệm hiện tại phát triển từ những hạt giống này. Cũng theo ngài Vô Trước, con người chính là dòng tâm thức này, được hình thành từ A-lại-da thức và các "chuyển thức" phát sinh từ nó, rồi lại gieo những hạt giống mới vào trong thức chứa.
Chương thứ hai của Nhiếp Đại Thừa Luận dành riêng cho giáo lý về "ba tự tính" hay "ba mô thức" (trisvabhāva). Giáo lý này cho rằng tất cả vạn pháp đều sở hữu ba mô thức - y tha khởi tính (paratantra), biến kế sở chấp tính (parikalpita) và viên thành thật tính (pariniṣpanna). John Keenan giải thích ba mô thức này như sau:Cơ bản nhất là mô thức phụ thuộc vào cái khác (y tha khởi tính), nói một cách ngắn gọn, chính là cấu trúc tâm thức nêu trên dưới dạng đồng phát sinh trong sự tương tác qua lại giữa thức chứa và các chuyển thức, và trong sự tương tác giữa hình ảnh và tuệ giác trong tư duy. Mô thức tưởng tượng (biến kế sở chấp tính) là sự thất bại trong việc thấu hiểu cấu trúc cơ bản này, dẫn đến việc bám chấp vào các sự vật như thể chúng có tự tính trường tồn. Bị đóng băng trước sự hiển hiện của các hình ảnh như thể chúng là bản chất, người ta lầm tưởng về thực tại của những thứ mà vốn dĩ bản thể của chúng là trống rỗng và không tự có. Vạn pháp đều là không, bởi lẽ tất cả các khái niệm được phóng chiếu trong mô thức tưởng tượng đều không có tự tính. Mô thức hoàn thiện (viên thành thật tính), mà ngài Chân Đế dịch là thực tại tính, là sự vắng bóng của tưởng tượng trong mô thức phụ thuộc vào cái khác, và từ đó khôi phục lại bản chất cơ bản của nó là y tha khởi.Chương ba trình bày giáo lý duy biểu (representation only) như một sự phủ nhận tính nhị nguyên chủ thể - khách thể. Từ chương bốn đến chương chín là cái nhìn tổng quan về sự tiến bộ của Bồ-tát thông qua việc thực hành các ba-la-mật (sự hoàn thiện) và các giai vị chứng ngộ. Chương mười thảo luận về bản chất của trí tuệ liên quan đến giáo lý Tam thân (Trikaya).
Bản dịch
Karl Brunnhölzl, trans., A Compendium of the Mahayana: Asanga's Mahayanasamgraha and Its Indian and Tibetan Commentaries (Tsadra), 3 volumes; Boulder, Colorado: Snow Lion, 2019. ISBN 1-559394-65-X
John Keenan, trans., The Summary of the Great Vehicle by Bodhisattva Asaṅga (Berkeley, Calif: Numata Center for Buddhist Translation and Research, 1992), translated from the Chinese of Paramārtha (Taishō vol. 31, number 1593). ISBN 1-886439-21-4ISBN 1-886439-21-4; Revised Second Edition 2003 (digital 2014)
Chikafumi Watanabe, Asanga's Mahayanasamgraha, Chapter III: Translation and Tibetan Text, D.K.Printworld, New Delhi, India, 2013.
Paul Griffiths, Noriaki Hakamaya, John P. Keenan, and Paul L. Swanson; The Realm of Awakening: Chapter Ten of Asanga's Mahayanasamgraha, New York and Oxford: Oxford University Press, 1989.
Étienne Lamotte, ed. and trans., La Somme du Grand Véhicule d'Asaṅga (Mahāyānasaṁgraha), 2 volumes; Louvain: Institut Orientaliste, Université de Louvain, 1973.
Nguồn: Mahāyānasaṃgraha, Wikipedia tiếng Việt, phiên bản 75560997, các tác giả Wikipedia. Giấy phép CC BY-SA 4.0. Đã lược bỏ hình ảnh, bảng, chú thích và tài liệu tham khảo; xem đầy đủ tại nguồn.