Pháp diệt tận kinh
Bài tham khảo từ Wikipedia tiếng Việt, chưa được thẩm định về giáo lý.
Kinh Pháp Diệt Tận (tiếng Trung: 法灭尽经; giản thể: 法灭尽经; phồn thể: 法滅盡經), trong các bộ Đại Tạng Kinh qua các triều đại, được xếp vào nhóm kinh Đại thừa nằm ngoài năm bộ lớn (Ngũ Đại Bộ), riêng Đại Tạng Kinh Đại Chính xếp bộ kinh này vào phần Niết Bàn bộ. Kinh bị khuyết danh dịch giả (thất dịch); phần mở đầu của kinh văn đề là "Văn như thị" (聞如是) thay vì "Như thị ngã văn" (如是我聞), cho thấy dịch giả có thể là người thuộc thời kỳ trước khi ngài Cưu-ma-la-thập dịch kinh. Nội dung của kinh kể về việc Phật pháp dần dần tiêu vong, cũng như câu chuyện sau khi Chánh pháp diệt tận hàng chục triệu năm, Đức Di Lặc sẽ hạ sinh thành Phật.
Nội dung
Đức Thích Tôn Cù-đàm ngự tại thành Câu-di-na-kiệt, ba tháng sau Ngài sẽ nhập Bát-niết-bàn. Tại buổi đại chúng tập hội, Ngài không phóng ánh sáng, rồi tuyên thuyết về việc sau khi Phật diệt độ, vào đời ác ngũ trược, ma đạo hưng thịnh, ma vương giả làm sa-môn để phá hoại, làm loạn Phật giáo. Có các bậc tu hành trong Phật môn như Bồ Tát, Bích Chi Phật, A-la-hán tinh tiến tu hành, làm các công đức, song lại bị các tỳ-kheo ma quỷ ghen ghét, phỉ báng rồi trục xuất, đuổi đi, không cho ở lại; từ đó về sau chùa chiền hoang phế, Phật giáo suy đồi.
Khi Phật pháp suy vi, người nữ tinh tiến tu hành, người nam lại lười nhác Phật pháp, chúng thiên khóc lóc, mưa nắng thất thường, ngũ cốc không chín, dịch bệnh hoành hành, chết chóc khắp nơi, nhân dân đau khổ, quan lại tham lam vô độ, kẻ ác ngày một nhiều, người thiện ngày càng ít. Do tai kiếp sắp đến, thời gian mặt trời chiếu sáng và mặt trăng xuất hiện ngắn lại, tuổi thọ theo đó cũng trở nên ngắn ngủi, người nam chết sớm, người nữ sống thọ. Sau đó có nạn lũ lụt lớn, người đời bị chìm ngập trong nước, bị cá rùa nuốt ăn. Lúc ấy, các vị Bồ Tát, Bích Chi Phật, A-la-hán do bị chúng ma xua đuổi, bèn vào núi rừng ẩn dật tu hành, tuổi thọ kéo dài, đạt được niềm hỷ lạc. Nguyệt Quang Đồng Tử (tiếng Phạn: Candraprabha Kumāra) được chúng thiên hộ vệ xuất thế và gặp gỡ các Ngài, cùng nhau làm hưng thịnh Phật pháp trong suốt năm mươi hai năm. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi này, Phật giáo hưng thịnh trên thế giới, giống như một người sắp chết hồi tưởng về quá khứ của mình.
Sau khi năm mươi hai năm qua đi, Kinh Thủ Lăng Nghiêm và Kinh Bát Chu Tam Muội sẽ biến mất trước, kế đến mười hai bộ kinh cũng diệt theo, thảy đều không còn nhìn thấy nữa, tấm áo cà sa của sa-môn bỗng chốc biến thành kiểu dáng của người thế tục. Phật pháp suy vi cũng giống như ngọn đèn dầu, lúc sắp tắt lại lóe sáng hơn rồi ngay lập tức vụt tắt. Trải qua hàng ngàn hàng vạn năm về sau, người đời đều không được nghe biết đến Phật pháp, không một ai có thể xuất ly thế gian.
Khi giảm kiếp sắp kết thúc, người đời khởi tâm nhàm chán xa lìa (sự ác), tuân theo phạm pháp (pháp thanh tịnh), bỏ ác làm lành, tuổi thọ nhờ đó tăng trưởng, tăng kiếp liền bắt đầu. Cứ mỗi trăm năm tăng thêm một tuổi, cho đến khi tăng tới tám vạn bốn ngàn tuổi (84.000 năm) Khi thời kỳ pháp diệt kéo dài hàng chục triệu năm kết thúc, Bồ Tát Di Lặc hạ sinh thế gian, tu chứng thành Phật, Phật pháp nhờ đó hưng thịnh trở lại; thiên hạ thái bình, không có dịch bệnh, mưa thuận gió hòa, ngũ cốc phong thu, người phàm đa phần vóc dáng cao lớn, tuổi thọ dài đến tám vạn bốn ngàn tuổi, chúng sinh được hóa độ nhiều không thể xiết kể. .
Kinh này có tên là Pháp Diệt Tận, hướng đến tất cả người phàm mà tuyên cáo, nên làm cho sáng tỏ và diễn giảng nghĩa lý, công đức vô lượng không thể cân đong đo đếm. Các đệ tử sau khi nghe biết về những việc thuộc thời kỳ mạt pháp, thảy đều cảm thấy bi thương, u sầu nhưng liền phát tâm vô thượng thánh chân đạo ý, đỉnh lễ Đức Thích Tôn rồi lui đi.
Tác giả mượn bộ kinh này để dự ngôn cho người đời về những việc tương lai, hy vọng người đời có thể phân biệt và quyết đoán rõ ràng.
Kinh Pháp Diệt Tận
Nghe như thế này: Một thời, Đức Phật ở nước Câu-di-na-kiệt.
Như Lai ba tháng nữa sẽ nhập Bát-niết-bàn, cùng với các vị tỳ-kheo và các vị Bồ Tát, cùng vô số đại chúng đến chỗ Phật, cúi đầu sát đất. Thế Tôn tịch tĩnh, lặng im không nói, ánh sáng không hiện.
Bậc hiền giả A-nan hành lễ rồi bạch Phật rằng: "Thế Tôn trước sau thuyết pháp, oai quang hiển hiện độc tôn. Nay đại chúng tập hội mà ánh sáng lại không hiện, vì cớ làm sao? Việc này tất có duyên cớ, nguyện xin được nghe ý chỉ ấy."
Đức Phật im lặng không đáp, như thế cho đến ba lần. Đức Phật mới bảo A-nan: "Sau khi Ta niết-bàn, lúc giáo pháp sắp diệt, trong đời ác ngũ nghịch, ma đạo sẽ hưng thịnh.
Ma vương làm sa-môn, phá hoại làm loạn đạo của Ta. Chúng mặc y phục thế tục, nhưng lại ưa thích cà-sa đẹp đẽ, mặc đồ năm sắc; uống rượu ăn thịt, sát sinh tham vị; không có tâm từ bi, lại còn đố kỵ ghen ghét lẫn nhau.
Bấy giờ có các vị Bồ Tát, Bích Chi Phật, A-la-hán tinh tiến tu đức, kính trọng đối đãi hết thảy; được người đời tôn sùng hướng theo, giáo hóa bình đẳng; xót thương người nghèo, nhớ nghĩ người già, nuôi nấng kẻ khốn cùng gặp nạn; hằng dùng kinh tượng khuyên người phụng thờ, làm các công đức, chí tính ân đức hiền lành; không xâm hại người, hiến thân cứu vật, không tự tiếc thân mình, nhẫn nhục nhân hòa.
Nếu có người như thế, chúng tỳ-kheo ma quỷ thảy đều cùng nhau ghen ghét, phỉ báng rêu rao điều xấu, trục xuất đuổi đi, không cho ở lại.
Về sau, chúng cùng nhau không tu đạo đức, chùa chiền hoang phế, không còn sửa sang, dần dần hủy hoại. Chúng chỉ tham tiền tài vật chất, tích tụ không phân phát, không làm phước đức. Chúng buôn bán nô tỳ, cày ruộng trồng trọt, đốt phá núi rừng, làm tổn hại chúng sinh, không có lòng từ bi. Nô bộc làm tỳ-kheo, tỳ nữ làm tỳ-kheo-ni. Chúng không có đạo đức, dâm dật trược loạn, nam nữ không phân biệt. Làm cho đạo pháp suy vi nhạt nhòa, đều do hạng người này. Có kẻ vì trốn tránh quan phủ nên nương tựa vào đạo của Ta, cầu làm sa-môn mà không tu giới luật.
Đến ngày rằm và ngày cuối tháng, tuy danh nghĩa là tụng giới, nhưng lại chán ngán lười biếng, không muốn nghe nhắc. Chúng cắt xén trước sau, không chịu tụng hết. Kinh điển không chịu ôn tập, giả sử có người đọc thì lại không biết chữ nghĩa câu cú, rồi cưỡng ép bảo mình nói đúng; không chịu hỏi bậc sáng suốt, tự cao cầu danh; hư hãm tỏ vẻ thanh cao để mong cầu vinh hiển, trông chờ người đời cúng dàng.
Chúng tỳ-kheo ma này sau khi mạng chung, thần thức sẽ đọa vào địa ngục Vô Gián, chịu tội ngũ nghịch. Thân ngạ quỷ, súc sinh không trải qua loài nào là không có, suốt số kiếp nhiều như cát sông Hằng. Chịu tội xong xuôi mới được tái sinh ở vùng biên địa, nơi không có Ba Ngôi Báu (Tam Bảo).
Lúc giáo pháp sắp diệt, người nữ tinh tiến, hằng làm công đức. Người nam lười nhác kiêu mạn, không theo lời pháp; mắt thấy sa-môn thì nhìn như nhìn phân đất, không có lòng tin tưởng.
Khi giáo pháp sắp tiêu biến, chính vào thời gian ấy, chư thiên khóc lóc chảy nước mắt. Mưa nắng thất thường, ngũ cốc không chín. Bệnh dịch lưu hành, người chết vô số. Nhân dân gian khổ nhọc nhằn, quan phủ tính kế bóc lột; không tuân theo đạo lý, thảy đều nghĩ đến việc loạn lạc để vui đùa. Kẻ ác chuyển biến ngày một nhiều, như cát trong lòng biển. Người thiện rất mực ít ỏi, chỉ được một hoặc hai người.
Vì kiếp sắp tận, mặt trời mặt trăng ngắn lại, mạng người chuyển sang ngắn ngủi. Bốn mươi tuổi đầu đã bạc. Người nam dâm dật, cạn kiệt tinh khí nên sớm tổn thọ, hoặc chỉ sống đến sáu mươi tuổi. Người nam thọ ngắn, người nữ thọ dài, sống đến bảy mươi, tám mươi, chín mươi, hoặc đến trăm tuổi.
Nước lớn bỗng dưng dâng lên, thình lình đến không định kỳ. Người đời không tin, cho đó là chuyện thường nhiên. Chúng sinh các loài hỗn tạp, không luận sang hèn, đều bị chìm đắm trôi nổi, làm mồi cho cá rùa ăn nuốt.
Bấy giờ có các vị Bồ Tát, Bích Chi Phật, A-la-hán bị chúng ma xua đuổi, không dự vào đại chúng hội hợp. Bậc tu ba thừa vào trong núi, nơi đất phước đức, điềm đạm tự giữ mình làm niềm vui sướng, tuổi thọ kéo dài. Chư thiên vây quanh hộ vệ. Nguyệt Quang ra đời, được dịp gặp gỡ nhau, cùng nhau làm hưng thịnh đạo của Ta suốt năm mươi hai năm.
Sau năm mươi hai năm, Kinh Thủ Lăng Nghiêm và Kinh Bát Chu Tam Muội sẽ biến mất trước tiên. Mười hai bộ kinh ngay sau đó cũng diệt theo, tiêu tận không còn xuất hiện, không còn thấy chữ nghĩa. Cà-sa của sa-môn tự nhiên biến thành màu trắng.
Giáo pháp của Ta lúc diệt đi, ví như ngọn đèn dầu, lúc sắp tắt thì ánh sáng lóe lên rực rỡ hơn rồi liền tắt ngấm. Giáo pháp của Ta lúc diệt đi cũng như ngọn đèn tắt vậy. Từ đó về sau, khó có thể số ghi lời kể.
Như thế sau hàng mấy mươi triệu năm, Đức Di Lặc sẽ hạ sinh thế gian thành Phật. Thiên hạ thái bình, độc khí tiêu trừ. Mưa nhuần hòa hợp, ngũ cốc tươi tốt, cây cối cao lớn. Người cao tám trượng, đều thọ tám vạn bốn ngàn tuổi. Chúng sinh được hóa độ nhiều không thể cân đong đo đếm."
Bậc hiền giả A-nan hành lễ rồi bạch Phật: "Nên gọi kinh này là tên gì, và phụng trì như thế nào?"
Đức Phật bảo: "A-nan, kinh này tên là Pháp Diệt Tận, tuyên cáo cho hết thảy, nên làm cho phân biệt rõ ràng. Công đức vô lượng, không thể nghĩ bàn."
Bốn bộ đệ tử nghe kinh xong, lòng dạ bi thảm u sầu, thảy đều phát tâm vô thượng thánh chân đạo ý, tất cả đều đảnh lễ Đức Phật rồi lui đi.
Các tác phẩm kinh điển liên quan
Tác phẩm Thích Ca Phả của ngài Tăng Hựu khi ghi chép về sự việc pháp diệt đã trích dẫn hai bộ kinh, một là Kinh Pháp Diệt Tận, và bộ còn lại là Kinh Tạp A-hàm · Kinh số 640 (một bản dịch khác của quyển 6 và quyển 7 thuộc A-dục Vương Truyện · Ưu-ba-cúc-đa Nhân Duyên).
Ngoài ra, các ghi chép khác về sự diệt tận của Chánh pháp còn có: A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận quyển thứ 183,, Kinh Mahamaya , Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập Nguyệt Tạng · Phẩm Pháp Diệt Tận, Phục Chú Tâm Nghĩa Đăng (Sāratthadīpanī-ṭīkā),, vàThích Ca Mâu Ni Như Lai Tượng Pháp Diệt Tận Chi Ký (được dịch từ tiếng Tây Tạng, là tác phẩm lịch sử về Phật giáo Vu Điền), v.v.
Các mục liên quan
Thời đại kết thúc Pháp
Kinh Shurangama Samadhi
Kinh Pratyutpanna Samadhi
Phật Di Lặc
Nguồn: Pháp diệt tận kinh, Wikipedia tiếng Việt, phiên bản 75099323, các tác giả Wikipedia. Giấy phép CC BY-SA 4.0. Đã lược bỏ hình ảnh, bảng, chú thích và tài liệu tham khảo; xem đầy đủ tại nguồn.