Từ Bi Hỷ Xả

Thư viện · Kinh điển

Thập mục ngưu đồ

Bài tham khảo từ Wikipedia tiếng Việt, chưa được thẩm định về giáo lý.

Thập mục ngưu đồ (zh. 十牧牛圖, ja. jūgyū-no-zu) là mười bức tranh chăn trâu nổi tiếng trong Thiền tông, tương ứng với quá trình hành đạo của một người phát nguyện đạt Giác ngộ. Mười bức tranh này có thể xem là biểu hiện cô đọng nhất, trình bày tinh hoa của Phật giáo Đại thừa.

Quá trình hình thành

Các bức tranh chăn trâu được sáng tạo trong thời nhà Tống (960-1279) và ngay từ đầu đã được xem như những bức hoạ tiêu biểu, trình bày tinh hoa, cốt tuỷ của Thiền Trung Quốc. Có nhiều bộ tranh - có thuyết nói là bốn, thuyết khác nói là 5, 6 chăn trâu khác nhau - nhưng có lẽ nổi danh nhất và cũng bao hàm ý nghĩa nhiều nhất là bộ với mười bức tranh của Thiền sư Khuếch Am Sư Viễn (zh. kuòān shīyuǎn 廓庵師遠, ja. kakuan shion, ~1150, tông Lâm Tế), được lưu lại trong bản sao của họa sĩ người Nhật tên Châu Văn (周文, ja. shūbun, ?-1460).

Một bộ khác với sáu bức tranh cũng thường được nhắc đến. Ban đầu, Thiền sư Thanh Cư Hạo Thăng (zh. qīngjū 清居, ja. seikyo, tông Tào Động) chỉ vẽ có năm bức nhưng sau, Thiền sư Tự Đắc Huệ Huy (tông Tào Động) vẽ thêm bức tranh thứ sáu. Trong bộ này, con trâu dần dần trắng ra và cuối cùng thì trắng hoàn toàn, một biểu tượng cho chân tâm thanh tịnh, vô cấu.

Mười bức tranh sau được xem là của Thiền sư Khuếch Am Sư Viễn. Những bức tranh này cũng được chú thích rất rõ, rất hay trong Thiền luận của Daisetz Teitaro Suzuki, bản dịch của Trúc Thiên và Thích Tuệ Sỹ. Bài tụng của Thiền sư Khuếch Am được Thích Thanh Từ dịch.

Tìm trâu

① 尋牛

茫茫撥草去追尋。

水闊山遙路更深。

力盡神疲無處覓。

但聞風樹晩蟬吟。

Tầm ngưu

Mang mang bát thảo khứ truy tầm

Thủy khoát sơn dao lộ cánh thâm

Lực tận thần bì vô xứ mịch

Đãn văn phong thụ vãn thiền ngâm

Nao nao vạch cỏ kiếm tìm trâu

Núi thẳm đường xa nước lại sâu

Kiệt sức mệt nhoài tìm chẳng thấy

Chỉ nghe réo rắt giọng ve sầu.

Thấy dấu

② 見跡

水邊林下跡偏多。

芳草離披見也麼。

縱是深山更深處。

遼天鼻孔怎藏他。

Kiến tích

Thủy biên lâm hạ tích thiên đa

Phương thảo li phi kiến dã ma

Túng thị thâm sơn cánh thâm xứ

Liêu thiên tị khổng chẩm tàng tha

Ven rừng bến nước dấu liên hồi

Vạch cỏ ruồng cây thấy được thôi

Ví phải non sâu lại sâu thẳm

Ngất trời lỗ mũi hiện ra rồi.

Thấy trâu

③ 見牛

黄鶯枝上一聲聲。

日暖風和岸柳青。

只此更無廻避處。

森森頭角畫難成。

Kiến ngưu

Hoàng oanh chi thượng nhất thanh thanh

Nhật noãn phong hoà ngạn liễu thanh

Chỉ thử cánh vô hồi tị xứ

Sâm sâm đầu giác hoạ nan thành

Hoàng anh cất tiếng hót trên cành

Nắng ấm gió hoà bờ liễu xanh

Chỉ thế không nơi xoay trở lại

Đầu sừng rành rõ vẽ khôn thành

Bắt trâu

④ 得牛

竭盡神通獲得渠,

心强力壯卒難除。

有時才到高原上,

又入煙雲深處居。

Đắc ngưu

Kiệt tận thần thông hoạch đắc cừ

Tâm cường lực tráng tốt nan trừ

Hữu thời tài đáo cao nguyên thượng

Hựu nhập yên vân thâm xứ cư

Dùng hết thần công bắt được y

Tâm hùng sức mạnh khó khăn ghì

Có khi vừa hướng cao nguyên tiến

Lại xuống khói mây mãi nằm ì

Chăn trâu

⑤ 牧牛

鞭索時時不離身。

恐伊縱歩惹埃塵。

相將牧得純和也。

羈鎖無拘自逐人。

Mục ngưu

Tiên sách thời thời bất li thân

Khủng y túng bộ nhạ ai trần

Tướng tương mục đắc thuần hoà dã

Ki toả vô câu tự trục nhân

Nắm chặt dây roi chẳng lìa thân

Ngại y chạy sổng vào bụi trần

Chăm chăm chăn dữ thuần hoà dã

Dây mũi buông rồi vẫn theo gần

Cưỡi trâu về nhà

⑥ 騎牛歸家

騎牛沫汁欲還家。

霞笛聲聲送晩霞。

一拍一歌無限意。

知音何必鼓唇牙。

Kị ngưu quy gia

Kị ngưu mạt trấp dục hoàn gia

Hà địch thanh thanh tống vãn hà

Nhất phách nhất ca vô hạn ý

Tri âm hà tất cổ thần nha

Cưỡi trâu thong thả trở về nhà

Tiếng sáo vi vu tiễn vãn hà

Một nhịp một ca vô hạn ý

Tri âm nào phải động môi à

Quên trâu còn người

⑦ 忘牛存人

騎牛已得到家山。

牛也空兮人也閑。

紅日三竿猶作夢。

鞭繩空頓草堂間。

Vong ngưu tồn nhân

Kị ngưu dĩ đắc đáo gia san

Ngưu dã không hề nhân dã nhàn

Hồng nhật tam can do tác mộng

Tiên thằng không đốn thảo đường gian

Cưỡi trâu về thẳng đến gia san

Trâu đã không rồi người cũng nhàn

Mặt nhật ba sào vẫn say mộng

Dây roi dẹp bỏ bên cạnh sàng

Người, trâu đều quên

⑧ 人牛俱忘

鞭索人牛盡屬空。

碧天遼闊信難通。

紅爐焰上爭容雪。

到此方能合祖宗。

Nhân ngưu câu vong

Tiên sách nhân ngưu tận thuộc không

Bích thiên liêu khoát tín nan thông

Hồng lô diệm thượng tranh dung tuyết

Đáo thử phương năng hợp tổ tông

Roi gậy, người trâu thảy đều không

Trời xanh thăm thẳm tin chẳng thông

Lò hồng rừng rực nào dung tuyết

Đến đó mới hay hiệp Tổ Tông

Trở về nguồn cội

⑨ 返本還源

返本還源已費功,

爭如直下若盲聾。

庵中不見庵前物,

水自茫茫花自紅。

Phản bản hoàn nguyên

Phản bản hoàn nguyên dĩ phí công

Tranh như trực hạ nhược manh lung

Am trung bất kiến am tiền vật

Thủy tự mang mang hoa tự hồng

Phản bản hoàn nguyên đã phí công

Đâu bằng thẳng đó tợ mù câm

Trong am chẳng thấy ngoài vật khác

Nước tự mênh mông hoa tự hồng

Thõng tay vào chợ

⑩ 入廛垂手

露胸跣足入鄽來,

抹土涂灰笑滿腮。

不用神仙真秘訣,

直教枯木放花開。

Nhập triền thuỳ thủ

Lộ hung tiển túc nhập triền lai

Mạt thổ đồ khôi tiếu mãn tai

Bất dụng thần tiên chân bí quyết

Trực giáo khô mộc phóng hoa khai

Chân trần bày ngực thẳng vào thành

Tô đất trét bùn nụ cười thanh

Bí quyết thần tiên đâu cần đến

Cây khô cũng khiến nở hoa lành

Lúc còn trụ tại Quy Sơn, Thiền sư Trường Khánh Đại An dạy chúng: "... Sở dĩ, Đại An này ở tại Quy Sơn ba mươi năm, ăn cơm Quy Sơn, đại tiện Quy Sơn mà không học thiền Quy Sơn, chỉ coi chừng con trâu. Nếu nó lạc đường hay vào trong cỏ liền lôi nó lại. Nếu nó ăn lúa mạ của người liền đánh đập điều phục nó… Bây giờ nó đã trở thành con trâu trắng đứng trước mặt, trọn ngày hiện sờ sờ đuổi cũng chẳng đi...".

Mã Tổ hỏi đệ tử mình là Thạch Củng Huệ Tạng: "Làm việc gì?" Thạch Củng thưa: "Chăn trâu." Tổ hỏi: "Làm sao chăn?" Thạch Củng đáp: "Một khi vào cỏ thì nắm mũi kéo lại." Tổ nghe bảo: "Con thật là khéo chăn trâu."

Nguồn: Thập mục ngưu đồ, Wikipedia tiếng Việt, phiên bản 70912715, các tác giả Wikipedia. Giấy phép CC BY-SA 4.0. Đã lược bỏ hình ảnh, bảng, chú thích và tài liệu tham khảo; xem đầy đủ tại nguồn.