Từ Bi Hỷ Xả

Thư viện · Lịch sử và tông phái

Tín ngưỡng Tịnh độ

Bài tham khảo từ Wikipedia tiếng Việt, chưa được thẩm định về giáo lý.

Tín ngưỡng Tịnh độ hoặc Tịnh độ sùng bái là sự tôn thờ và tín ngưỡng đối với Tịnh độ trong Phật giáo Đại thừa, đại diện cho lý tưởng của Đại thừa. Thái Hư Đại sư từng nói: "Luật là nền tảng chung của ba thừa, còn Tịnh độ là nơi che chở chung của ba thừa". Quan trọng nhất là Tây Phương Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật, với Tịnh Độ tông là đại diện tiêu biểu. Đây là một tư tưởng chủ trương đạt được cứu độ thông qua niềm tin vào tha lực. Tuy nhiên, trong lịch sử Đông Á, không thiếu những người hướng vọng tới các Tịnh độ của Bồ Tát Di Lặc, Dược Sư Phật, Kim Cương Bất Động Phật, Tỳ Lô Giá Na Phật cùng các vị Phật, Bồ Tát khác. Những tín ngưỡng này đều có thể được xếp vào phạm trù tịnh độ sùng bái theo nghĩa rộng.

Thuyết tha lực

Thuyết tha lực là quan niệm cho rằng tín đồ dựa vào bản nguyện của một vị Thánh nhân (như A Di Đà Phật, Bồ Tát Di Lặc, Quan Thế Âm Bồ Tát, Dược Sư Phật, Kim Cương Bất Động Phật, Tỳ Lô Giá Na Phật) và chủ yếu nhờ vào sức mạnh của vị ấy (tha lực) để được sinh về Tịnh độ; tuy nhiên bản thân người tu vẫn phải tu hành (tự lực). Tịnh Độ tông truyền thống cho rằng cần có sự kết hợp giữa tự lực và tha lực, lấy tha lực làm chính, tự lực làm phụ; ngoài việc kiên tín vào Phật lực, bản thân cũng phải có công phu tu tập.

Tuy nhiên, Đàm Loan căn cứ vào bốn mươi tám đại nguyện của A Di Đà Phật, đặc biệt nhấn mạnh đại nguyện thứ mười tám, cho rằng ngoại trừ những người phạm ngũ nghịch và không tin, tất cả chúng sinh đều có thể nương theo đại nguyện thứ mười tám mà được vãng sinh Tây Phương Tịnh độ. Từ đó hình thành tư tưởng hoàn toàn nương tựa vào tha lực tuyệt đối của Phật.

Tổ khai sáng Bản Nguyện tông tại Nhật Bản, Thân Loan, còn cho rằng việc tin tưởng vào tha lực chính là biểu hiện của vô ngã. Phương pháp lấy tín tâm và phát nguyện làm trọng tâm của Tịnh Độ tông cũng tạo nên điểm khác biệt lớn nhất giữa tông phái này với các tông phái Phật giáo khác.

Định nghĩa Tịnh độ

Tịnh độ, tiếng Phạn Kṣetra, được phiên âm là "sát", "sát độ", có nghĩa là nơi chốn hoặc thế giới, tức là một cõi thanh tịnh, trang nghiêm, không có sự ô nhiễm. Tuy nhiên, do chúng sinh vô lượng, Phật và Bồ Tát cũng vô lượng, nên Tịnh độ không chỉ có riêng Tây Phương Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật, mà hiện diện khắp mười phương ba đời để tiếp dẫn chúng sinh có căn cơ khác nhau.

Kinh điển Tịnh độ Di Đà

Các kinh điển Di Đà được hình thành tại vùng tây bắc Ấn Độ vào đầu Công nguyên. Nguồn gốc của tín ngưỡng A Di Đà và nguyên mẫu của Cực Lạc thế giới cho đến nay vẫn chưa có kết luận thống nhất. Phần lớn các học giả phương Tây cho rằng tín ngưỡng A Di Đà chịu ảnh hưởng của hình thức thờ thần Mặt Trời trong Kỳ Na giáo (Zoroastrianism) của Ba Tư và Trung Á. Theo khảo cứu của họ, "Amita" (A Di Đà) về mặt từ nguyên có thể truy nguyên đến thần Mặt Trời Mithra trong thần thoại Ba Tư cổ đại và Ấn Độ giáo. Tuy nhiên, cũng có học giả cho rằng tín ngưỡng A Di Đà phát sinh từ nội bộ nền văn minh Ấn Độ. Họ nhận thấy trong Kausitaki Upanisad, bảo tọa của Phạm Thiên mang tên "Amitojas" (Vô lượng uy lực), có sự tương thông với khái niệm "Vô lượng quang" của Phật giáo. Đồng thời, thế giới sau khi chết được mô tả trong kinh này cũng có nhiều chi tiết tương đồng với Cực Lạc thế giới. Những hình ảnh như ao sen thất bảo và mặt đất bằng vàng của Cực Lạc cũng có quan hệ mật thiết với hình thái thế giới lý tưởng trong tâm thức người Ấn Độ.

Kinh Bát Chu Tam Muội, do Chi Lâu Ca Sấm dịch vào năm thứ hai niên hiệu Quang Hòa đời Hán Linh Đế thời Đông Hán, là kinh điển liên quan đến Tịnh độ được truyền vào Trung Quốc sớm nhất. Kinh mô tả pháp môn khiến chư Phật mười phương (đặc biệt là A Di Đà Phật) hiện tiền thông qua quán tưởng hoặc niệm danh hiệu Phật.

Kinh A Di Đà, do Cưu Ma La Thập dịch. Kinh dùng văn phong ngắn gọn nhưng tráng lệ để mô tả sự thanh tịnh, trang nghiêm của cõi Tịnh độ, đồng thời trình bày pháp môn trì danh niệm Phật. Hiện còn bản dịch lại của Huyền Trang đời Đường, mang tên Xưng tán Tịnh độ Phật nhiếp thọ kinh.

Tương tự như Kinh A Di Đà, còn có bộ kinh ngắn A Di Đà Cổ Âm Thanh Vương Đà La Ni Kinh (gọi tắt là Kinh Cổ Âm Thanh), không rõ người dịch. Kinh này cũng là tác phẩm do Đức Phật Thích Ca giảng về công đức của A Di Đà Phật, nhưng có hai đặc điểm: thứ nhất là ghi chép tên cha mẹ của A Di Đà Phật; thứ hai là chứa đựng "Cổ Âm Thanh Vương Đại Đà La Ni".

Kinh Quán Vô Lượng Thọ (gọi tắt là Quán Kinh), do Cương Lương Da Xá dịch vào thời Lưu Tống. Mục đích của kinh là hướng dẫn người tu Tịnh độ quán tưởng Cực Lạc thế giới. Trong mười sáu phép quán, ba phép cuối chủ yếu mô tả tình trạng "cửu phẩm vãng sinh".

Kinh Vô Lượng Thọ là kinh điển căn bản của Tịnh Độ tông, giới thiệu công đức của Tỳ kheo Pháp Tạng trong tiền thân của A Di Đà Phật và những bản nguyện mà ngài đã phát khi thệ nguyện thành Phật. Kinh có rất nhiều bản dịch; hiện còn năm bản dịch khác nhau từ các thời Đông Hán, Tôn Ngô, Tào Ngụy, nhà Đường và nhà Tống. Bản dịch thời Đường được Đại sư Ngẫu Ích đánh giá là tốt nhất trong năm bản, còn bản Tào Ngụy được Thích Ấn Quang đại sư ủng hộ và lưu truyền rộng rãi. Trong các thời kỳ khác nhau cũng có nhiều nỗ lực nhằm hội tập các bản dịch này thành một bản tổng hợp. Bản hội tập phổ biến hiện nay là do cư sĩ Hạ Liên Cư soạn vào thời Dân Quốc và được Tịnh Không pháp sư tán dương, truyền bá.

Giáo lý vãng sinh Tịnh độ tại chính Ấn Độ không phổ biến lắm. Trong phẩm Dị Hành của Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận do Long Thọ trước tác và được Cưu Ma La Thập dịch, việc nhớ nghĩ, xưng danh và lễ kính chư Phật, Bồ Tát được xem là Dị hành đạo để đạt tới địa vị A duy việt trí. Trong Đại Trí Độ Luận cũng có những đoạn ca ngợi Tịnh độ Di Đà. Tuy nhiên, các tác phẩm này không phải là những luận thư chuyên giải thích tín ngưỡng Tịnh độ. Thế Thân trước tác Vãng Sinh Luận, được xem là trước tác duy nhất về Tịnh độ của Ấn Độ, do Bồ Đề Lưu Chi dịch sang Hán văn vào thời Bắc Ngụy. Luận này trình bày năm niệm môn gồm: lễ bái, tán thán, quán sát, phát nguyện và hồi hướng; cho rằng tu tập năm niệm môn ấy có thể đạt được nhiều thành tựu, vãng sinh Tây Phương, cuối cùng vừa tự lợi vừa lợi tha và chứng đắc Bồ-đề.

Kinh điển Tịnh độ Di Lặc

Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sinh Đâu Suất Thiên, do Thư Cừ Kinh Thanh dịch vào thời Lưu Tống. Kinh mô tả cảnh giới cung trời Đâu Suất mà Bồ Tát Di Lặc sinh về sau khi mãn báo thân, đồng thời có những miêu tả sinh động về Tịnh độ Đâu Suất. Kinh cũng chỉ rõ các thiện nghiệp cần tu, phép quán niệm hình tượng Phật và việc xưng niệm thánh hiệu Di Lặc dành cho những người mong được vãng sinh về cõi này. Quan điểm của kinh tương thông với Kinh Quán Vô Lượng Thọ, có thể xem là tác phẩm ra đời trong cùng bối cảnh lịch sử.

Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Hạ Sinh, do Trúc Pháp Hộ dịch vào thời Tây Tấn. Kinh truyền bá tín ngưỡng Di Lặc hạ sinh, tiên đoán rằng khi tuổi thọ con người trong tương lai đạt tới tám vạn bốn nghìn năm, Di Lặc sẽ giáng sinh xuống nhân gian và kiến lập một nhân gian Tịnh độ.

Kinh Di Lặc Đại Thành Phật, do Cưu Ma La Thập dịch. Nội dung của kinh này gần gũi với Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Hạ Sinh, nhưng phong phú và chi tiết hơn.

Ba bộ kinh trên hợp xưng là "Di Lặc tam bộ kinh". Nếu cộng thêm các kinh cùng thuật lại nội dung Di Lặc hạ sinh như Kinh Di Lặc Lai Thời, Kinh Di Lặc Thụ Quyết, Kinh Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật, thì được gọi chung là Di Lặc lục bộ kinh. Cũng có quan điểm cho rằng kinh điển Di Lặc còn nên bao gồm các kinh như Nhất Thiết Trí Quang Minh Tiên Nhân Từ Tâm Nhân Duyên Bất Thực Nhục Kinh (không rõ dịch giả), Kinh Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Bản Nguyện do Trúc Pháp Hộ dịch, và phẩm Viên Thông của Di Lặc Bồ Tát trong Kinh Lăng Nghiêm.

Kinh điển Tịnh độ Dược Sư

Vào thời Đông Tấn, Bạch Thi Lê Mật Đa La dịch phần Phật thuyết Quán đỉnh Đại Thần Chú Kinh mang tên Phật thuyết Quán đỉnh Bạt trừ Tội quá Sinh tử Đắc độ Kinh, đánh dấu sự du nhập đầu tiên của kinh điển Dược Sư vào Trung Quốc. Đến thời nhà Tùy, Đạt Ma Cấp Đa dịch Phật thuyết Dược Sư Như Lai Bản Nguyện Kinh. Đời nhà Đường, Pháp sư Huyền Trang dịch Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức. Sau đó, Pháp sư Nghĩa Tịnh dịch Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bản Nguyện Công Đức.

Ba bản dịch đầu nhìn chung có nội dung tương tự nhau và chỉ đề cập tới "Tịnh độ Dược Sư". Riêng bản dịch của Nghĩa Tịnh có điểm khác biệt, ghi chép về "Tịnh độ của bảy vị Phật", đồng thời kèm theo "Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Đại Đà La Ni", vì vậy nội dung phong phú hơn. Tuy nhiên, bản dịch của Huyền Trang vẫn là bản được lưu hành phổ biến nhất hiện nay. Bản Huyền Trang thông dụng ngày nay đã được bổ sung danh hiệu tám vị đại Bồ Tát từ bản dịch thời Đông Tấn, và thêm thần chú Dược Sư cùng hơn hai mươi dòng văn liên quan từ bản dịch của Nghĩa Tịnh, nên không hoàn toàn là nguyên bản.

Kinh điển Tịnh độ A Súc Phật

Vào thời Đông Hán, Chi Lâu Ca Sấm dịch Kinh A Súc Phật Quốc, mô tả Thế giới Diệu Hỷ ở phương Đông. Kinh này là bản đồng bản dị dịch với phẩm Như Lai Bất Động Hội trong Đại Bảo Tích Kinh.

Tịnh độ của A Súc Phật đại diện cho tư tưởng Tịnh độ mang tính hiện thực, đề cao tự lực, chứng ngộ trí tuệ và coi trọng hạnh Đầu đà. Điều này tạo nên sự đối lập rõ rệt với Tịnh độ A Di Đà Phật, vốn nhấn mạnh lý tưởng, tha lực, tín tâm và phát nguyện.

Nhân gian Tịnh độ

Trong thời cận đại và hiện đại, Thái Hư Đại sư là một trong những nhân vật tiêu biểu của Phật giáo đã vượt qua các lý luận truyền thống để làm mới quan niệm về Tịnh độ. Khác với "Phật giáo sơn lâm" hay "Phật giáo tăng lữ" truyền thống, Thái Hư Đại sư chủ trương "Phật giáo nhân sinh", quan tâm tới khổ đau nơi thế gian, và Tịnh độ mà ông đề xướng là "Nhân gian Tịnh độ".

Ông phê phán những người tu Tịnh độ chỉ nhằm tìm kiếm sự giải thoát cho riêng mình, cho rằng đó là lối thực hành của hàng Thanh văn tự độ, không phải hạnh Tịnh độ của Đại thừa. Ông cho rằng bằng sự thành tâm của mỗi cá nhân trong việc tích lũy các nhân duyên thiện lành và thanh tịnh, lâu dần thế giới ô trược hiện tại có thể chuyển hóa thành một cõi Tịnh độ trang nghiêm. Vì vậy, không cần tìm kiếm một Tịnh độ nào khác ngoài nhân gian.

Đệ tử của Thái Hư, Ấn Thuận pháp sư, đã tiếp tục phát triển tư tưởng này. Ấn Thuận cho rằng Tây Phương Tịnh độ vốn tượng trưng cho "sự viên mãn của vĩnh hằng và hạnh phúc", tức là công đức quả vị của Phật. Người Trung Quốc đặc biệt coi trọng Tịnh độ Tây phương là do quá chú trọng đến quả đức của Phật mà xem nhẹ Tịnh độ A Súc Phật, vốn biểu hiện cho đại hạnh và trí chứng của Bồ Tát; đồng thời cũng xem nhẹ Tịnh độ Di Lặc, biểu tượng của niềm tin và sự thực hành xây dựng Nhân gian Tịnh độ. Theo ông, đây là một sự phát triển thiên lệch và không phản ánh đầy đủ ý nghĩa chân thật của Tịnh độ A Di Đà.

Do đó, khi giảng giải về Tịnh độ, cả Thái Hư và Ấn Thuận đều nhấn mạnh mối liên hệ giữa Tịnh độ với đời sống nhân gian, đồng thời đặc biệt coi trọng Tịnh độ Di Lặc và Tịnh Lưu Ly thế giới của Dược Sư Phật, những cảnh giới có liên hệ mật thiết hơn với cuộc sống con người.

Các Tịnh độ khác trong Phật giáo Hán truyền

Kinh Văn Thù Sư Lợi Phật Độ Nghiêm Tịnh, do Trúc Pháp Hộ dịch vào thời Tây Tấn, thuật lại cõi Tịnh độ trang nghiêm được Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát kiến lập khi thành Phật. Tuy nhiên, Tịnh độ này ít được tín ngưỡng trong lịch sử Trung Quốc.

Thư mục nghiên cứu

Vọng Nguyệt Tín Hanh (望月信亨) trước tác, Thích Ấn Hải dịch: Lịch sử giáo lý Tịnh độ tại Trung Quốc (Đài Bắc: Huệ Nhật Giảng Đường, 1974).

Nguồn: Tín ngưỡng Tịnh độ, Wikipedia tiếng Việt, phiên bản 75603428, các tác giả Wikipedia. Giấy phép CC BY-SA 4.0. Đã lược bỏ hình ảnh, bảng, chú thích và tài liệu tham khảo; xem đầy đủ tại nguồn.